Bộ Sách Cánh Buồm
là thành quả của nhóm phát triển được dẫn dắt bởi nhà nghiên cứu giáo dục Phạm
Toàn khi còn tại thế. Nhà Việt Institute rất mong kết nối với các học giả và
các nhà giáo tâm huyết để tiếp tục phát triển bộ giáo trình này và kinh nghiệm
giảng dạy tiếng Việt bên ngoài Việt Nam. Thay lời giới thiệu, chúng tôi xin
trích một số phần trong các bài viết và trình bày của nhà giáo Phạm Toàn để những
bạn quan tâm có thể hiểu hơn về Bộ Sách Cánh Buồm và về cách dạy và học tiếng
Việt hiện đại. Bộ sách hoàn toàn miễn phí và nhiều thông tin về Nhóm Tác Giả Phạm
Toàn có thể tìm thấy tại website canhbuom.edu.vn.
Bài 1. Hạnh phúc nhọc nhằn nơi lớp Một!
Xưa nay, có hai
cách học để biết đọc biết viết tiếng Việt.
1. Cách học
thứ nhất – “đánh vần theo chữ”
a. Thời kỳ đầu
Cách học này có
ít nhất từ đầu thế kỷ 20 khi chữ quốc ngữ được đem dùng với tư
cách chính thức, do đó trẻ em phải học từ lớp Đồng ấu (bây giờ là lớp Một).
Trẻ em đi học
được dùng bộ sách khai tâm có nghĩa là mở cửa tâm
trí và sau này được đổi thành vỡ lòng (chữ “vỡ” không
có nghĩa là “tan vỡ” mà mang nghĩa “khai mở”, “vỡ vạc”).
Đại thể khai
tâm hoặc vỡ lòng đều bắt đầu bằng học các con chữ: a, b, c …
Các tác giả tìm
mọi cách để học trò mau thuộc các con chữ. Sách vỡ lòng thời tác giả bài này bắt
đầu đi học (quãng năm 1936) gồm có a quả na, e kéo xe, ê con dê, i đi học,
u đánh đu, ư các lư, ơ quả mơ, o cái mo, ô cái ô, …
Sau đó là học
sang vần bằng ba, bă, bâ, be, bê, bi, bo, bô, bơ, bu, bư… ca,
că, câ, ke, kê, ki, co, cô, cơ, cu cư … cha, chă, châ, che, chê, chi, cho, chô,
chu, chư…
Cách đánh vấn
những vần bằng như sau: [bê]-[a]-[ba] … [bê]-[á]-[bá] … [bê]-[ớ]-[bớ] … Sai
lầm ngay từ đầu: các bán nguyên âm [ă] và [â] không
bao giờ đứng một mình mà luôn luôn cần âm khác khép lại – thí dụ [băn] [bân]
[căn] [cân] [chăn] [chân] …
Sau các vần
bằng học sang vần trắc như [an] [ăn] [ân] … [ai] [ay]
[ây] … [anh] [ach] … [uông] [ương] [uyt] [uyêt] …
Cách đánh vần một
tiếng có vần trắc, thí dụ tiếng [nguyệt] diễn ra như sau: [en] [dê] [u] [ngu]
[y-cờ-lét] [i] [nguy] [ê] [nguê] [tê] [nguyêt] [nặng] [nguyệt]… Thí dụ tiếng
[nghiệm] đánh vần như sau: [en] [dê] [hát] [i] [nghi] [ê] [nghê] [em-mờ]
[nghiêm] [nặng] [nghiệm]. Sai lầm của cách đánh vần này là bắt
học trò chấp nhận những điều vô nghĩa lý. Mời các bạn đánh vần lại tiếng [nguyệt]
và tiếng [nghiệm] để tự xác định cái gì là vô nghĩa lý …
b. Thay đổi
giữa những năm 1930
Cách học thứ nhất
để biết đọc và viết tiếng Việt theo lối “đánh vần theo chữ” vẫn
có kết quả, vì người ta … vẫn thấy nó có kết quả.
Nghe đồn là những
tù nhân biết chữ đã dùng Truyện Kiều để dạy “đánh vần theo chữ”
và những bạn tù rồi cũng biết đọc và viết tiếng Việt như thường.
Vẫn hơn học chữ
Nho. Vẫn biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ.
Nhưng đến giữa
những năm 1930, nhu cầu muốn cho nhiều người dân biết đọc và viết tiếng Việt
hơn, một số nhà trí thức đã thay đổi cách “đánh vần theo chữ”. Hoàng Xuân Hãn
và Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Công Mỹ … đã thay cách học theo hướng tôn trọng
ngữ âm tiếng Việt hơn.
Sự thay đổi được
Hội Truyền bá Chữ quốc ngữ thực hiện. Người ta vẫn bắt đầu bằng dạy chữ viết,
nhưng cách đánh vần thì thay đổi theo hướng ngữ âm. Tên gọi các chữ ghi phụ âm
không còn là bê xê xê-hát dê đê như của “Tây” nữa mà gọi tên
theo âm thành bờ cờ chờ dờ đờ … không gọi e-lờ em-mờ
en-nờ nữa mà gọi lờ mờ nờ … từ đó có cả loạt
như trờ thờ sờ xờ vờ …
Cách đánh vần
[tờ] [i] [ti] đã xóa bỏ cách đánh vần [tê] [i] [ti], hoặc xóa bỏ lối [en] [dê]
[hat] [i] [nghi] để chỉ còn [ngờ] [i] [nghi] …
Còn đối với những vần
trắc thì cách đánh vần vẫn là “mô tả theo trật tự các con chữ”. Thí dụ
[i] [ê] [nờ] [iên] để mô tả những chữ ghi tạo thành vần [iên]. Tương tự như vậy,
ta có [u] [ô] [ngờ] [uông] hoặc [ư] [ơ] [ngờ] [ương] hoặc [o] [a] [nhờ] [oanh],
…
Tức là sự thay
đổi theo hướng ngữ âm của Hội Truyền bá Chữ quốc ngữ mới chỉ dừng
lại ở các phụ âm, còn đại thể vẫn tiếp tục con đường “đánh vần theo chữ”.
2.- Cách học
thứ hai – theo ngữ âm
Tôi xin diễn giải
con đường tổ chức cho học sinh học tiếng Việt lớp 1. Xin bạn lưu ý: tôi không
viết dạy học sinh mà viết tổ chức cho học sinh học.
Điều đó có ý nghĩa là phải nghiên cứu cách học của học sinh thì mới tổ chức được
cách học đó. Từ dạy chuyển sang tổ chức học là
sự thay đổi quan hệ giữa Thày và Trò, hai nhân vật trung tâm của một nhà trường.
Khi Thày giáo
không giảng giải và bắt Học sinh học thuộc, con đường dạy học sẽ được thực hiện
qua hệ thống việc làm. Nhà sư phạm phải tìm ra được những việc
làm để học sinh thực hiện. Học sinh sẽ phải làm lại những thao tác mà nhà ngữ
âm học đã làm để ghi tiếng Việt. Đó là ba thao tác phát âm – phân tích
âm – ghi lại và đọc lại. Ba thao tác ngữ âm học đó được diễn ra theo từng
bước làm việc như sau.
Bước 1 –
Tách lời nói thành tiếng đơn lập
Học sinh không
bắt đầu bằng việc học con chữ. Các em bắt đầu với việc phát âm một câu nói, hoặc
hai câu ca dao, hoặc vài bốn câu thơ… Sau khi vừa phát âm từng tiếng vừa vỗ tay
phân tích thì các em sẽ ghi lại được bằng những vật thay thế tiếng nói. Việc viết
diễn ra từ trái qua phải trên hàng ngang – y hệt như đang “viết” chính tả (dù
chưa dùng con chữ nhưng cũng “viết” được). Các tiếng Việt đơn lập được học
sinh làm ra và ghi lại, sau khi phát âm và phân tích âm.
Việc làm mở đầu
này rất quan trọng. Việc học tiến hành dễ dàng, giáo viên hướng dẫn dễ dàng,
song điều quan trọng là trong tâm lý trẻ em, các em đã có các khái niệm ngữ âm
học do chính các em làm ra: Lời nói, Câu nói, các Tiếng trong Lời nói … và có
các khái niệm về phương pháp làm việc theo lối ngữ âm học: Phát âm, Phân tích,
Ghi, Đọc … Với tư cách học sinh lớp 1, các em quen với việc viết, quen với việc
đọc để kiểm tra việc ghi âm. Và ngay từ đầu, các em cũng quen dần việc tự đánh
giá: em học được điều gì? Em làm đúng hay sai? Em làm sai thì tự chữa như thế
nào? Bãi bỏ hẳn được việc Thày giáo cho điểm và đánh giá Học sinh, và bãi bỏ tự
nhiên trong khi lớp học diễn ra như đang chơi vui.
Bước 2 –
Tách một tiếng thành hai phần
Từ chuỗi tiếng
vừa phát âm và vừa phân tích, Giáo viên lấy ra một tiếng thanh ngang làm mẫu để
sau khi phát âm thì học sinh phân tích bằng cách tách tiếng đó thành hai phần,
là phần đầu và phần vần. Học sinh cũng ghi lại điều mới học trong mô hình tượng
trưng cho tất cả các tiếng đơn lập. Học sinh thoải mái tự tìm các tiếng cho cả
lớp phân tích:
Phát âm 1 tiếng
Phân tích Được 1 tiếng
gồm phần đầu và
phần vần
[ba]
[b]
[a]
[ba]
[linh]
[l]
[inh]
[linh]
[cương]
[cờ]
[ương]
[cương]
[kem]
[cờ]
[em]
[kem]
[quân]
[cờ]
[uân]
[quân]
Ngay trong lúc
này, xin bạn đừng chú ý tới con chữ, vì học sinh chưa học các con chữ, các em
chỉ phát âm thôi. Cho nên phần phụ âm đầu của bất kỳ tiếng
[ca] [kem] [qua] [quanh] [quăng] … thì cũng đều có phần đầu là [cờ]. Bạn hãy thử
với trẻ em từ năm sáu tuổi, sẽ thấy các em đều biết phát âm tự
nhiên như vậy.
Khi đã được một
tiếng thanh ngang bất kỳ, các em sẽ học cách thêm thanh để được tiếng khác. Từ
mẫu [ba] [huyền] ]bà] … các em có thể đi đến ]bá] ]bả] ]bã] ]bạ] và tự ứng
dụng mãi mãi vào tất cả các tiếng.
Thao tác ngữ âm
học được củng cố như sau. Các âm được phát ra và phân tích âm rồi ghi lại theo
nhiều cách chứ không chỉ bằng phương tiện là những con chữ. Có được nhận thức
như vậy khiến tư duy trẻ em được cởi mở, không chịu lệ thuộc vào chỉ một hệ thống
ghi âm.
Kết quả học tập
cuối bước 2 sẽ dẫn các em dễ dàng chuyển sang bước 3.
Bước 3 – Học
tiếng mẫu [ba]
|
b
a |
Mô hình phần đầu,
phần vần một âm chính
Bước này rất
quan trọng và gồm nhiều nội dung, ở đây nói ba nội dung chủ chốt, đó là:
a. Học các con
chữ để tự ghi được tất cả các tiếng gồm một phụ âm đầu và một nguyên âm là âm
chính; đây cũng là lúc thực hiện luật chính tả thứ nhất nghe thế nào
nói thế nào thì ghi như thế.
Tiết mẫu (để Học
sinh nắm vững khái niệm tiếng mẫu [ba] gồm phần đầu là phụ âm [b] và phần vần
chỉ có âm chính [a] rồi ghi vào mô hình để nhớ mẫu đó và lật bằng viết chính tả
ba, sau đó là bà, bá, bả, bã, bạ.
Theo mẫu đó là
các tiết luyện tập làm việc theo tiết mẫu để có ba be
bê bi bo bô bơ
bu bư rồi tiếp tục có
ca
co cô cơ cu cư
cha
che chê chi cho chô chơ chu
chư cho đến
ga
go gô gơ gu gư
nga
ngo ngô ngơ ngu ngư
Bạn đã nhận thấy
chỗ trống bên trên không? Đó là để chuyển sang học luật chính tả bắt buộc như ở
mục (b) sau đây.
b. Học luật
chính tả bắt buộc, dùng chữ k (chữ “ca”) ghi phụ âm đứng trước nguyên âm [e]
[ê] và [i] – sau đó sẽ mở rộng sang ghi phụ âm đầu gh (“gờ kép”) và ngh (“ngờ
kép”) khi đứng trước nguyên âm [e] [ê] và [i].
Tiết mẫu:
Ôn cái đã biết:
cách ghi tiếng mẫu [ba].
Bài toán mới:
cách ghi tiếng [ce]
Giải bài toán mới:
học chữ k và viết chính tả,
Tiếng phải ghi:
[ce]
Phân tích tiếng
phải ghi [cờ] [e] [ce]
Trước khi ghi
phải nói to để thuộc lòng luật: Theo luật chính tả, âm [cờ] đứng trước nguyên
âm [e] em phải viết bằng con chữ k (“ca”)
Viêt: ke (sau
này, tiếp tục với) kê, ki và ghe ghê ghi cungxnhw nghe nghê nghi.
c. Học luật
chính tả theo nghĩa, các tiếng (từ) ghi phụ âm đầu khác nhau thì thay đổi
nghĩa.
Tiết mẫu:
Ôn cái đã biết:
cách ghi tiếng mẫu [ba] và cách ghi tiếng mẫu [ce]
Bài toán mới:
cách ghi tiếng [za]
Cách ghi thứ nhất
[za] có nghĩa da thịt, ghi bằng chữ d (“dờ”)
Cách ghi thứ
hai [za] có nghĩa gia đình, ghi bằng chữ gi (“gi”)
Cách ghi thứ ba
[za] có nghĩa ra vào, ghi bằng chữ r (“rờ”)
Theo tiết mẫu
này, trong các tiết luyện tập, Học sinh áp dụng sang các trường hợp khác như
[ch] [tr] (chẻ tre, cha, cá tra, chê, cá trê, cho, tro vv…)
Về sau, còn nhiều
trường hợp nữa, như chiết cây, triết học, trâu cầy, châu báu, chân tay, trân trọng
vv… nhiều vô kể. Người lớn tuổi cũng có khi phải tra từ điển. Nhưng ở lớp 1, Học
sinh có cuốn từ điển sống để hoirlaf Giáo viên, Khi viết tiếng theo luật chính
tả theo nghĩa, Học sinh được hỏi Giáo viên, coi như biết cách tra từ điển,
không bị chê. Không biết hỏi mà viết sai mới bị chê! Đến già vẫn gặp chuyện đó!
Bước 4 – Học
tiếng mẫu [loa]
|
l
o a |
Mô hình phần vần
có âm đệm và âm chính
Bước này thực
chất là áp dụng và mở rộng nội dung đã học ở mẫu [ba].
Mở rộng sau khi
học mẫu tiếng [loa] Học sinh sẽ tự ghi được tất cả các tiếng như sau
boa choa
doa đoa goa hoa khoa loa moa
noa ngoa … voa
boe
choe doe đoe …
…
… voe
buê
chuê duê đuê …
…
… vuê
buy
chuy duy đuy …
…
… vuy
Phát triển luật
chính tả bắt buộc (ke, kê, ki, đã học) khi học cách ghi tiếng [kwa] Học sinh se
xphair thuộc luật và nói to trước khi viết: “Theo luật chính tả, âm “cờ” đứng
trước âm đêm, em phải viết bằng chữ q (“cu”) âm đệm viết bằng chữ u, và các em
sẽ có như sau
qua
que quê quy …
|
l
a n |
Bước 5 – Học
tiếng mẫu [lan]
Phần vần có âm
chính và âm cuối, không âm đệm
Bước này thực
chất vẫn là áp dụng và mở rộng nội dung đã học ở mẫu [ba] và [loa].
Mở rộng sau khi
học mẫu tiếng [lan] Học sinh sẽ tự ghi được tất cả các tiếng như sau
ban
chan dan đan gan han khan lan
man nan ngan … van
Điều quan trọng
ở phần này là học bổ sung hai bán nguyên âm [ă] và [â] vì hai nguyên âm này
không đứng được một mình, cần có phụ âm hoặc nguyên âm khép lại: [ăn]
[ân] [ăy] [ây] vv…
Luật chính tả
dùng chữ k cũng được mở rộng sang phần này: kem, kêm, kim.
|
l
o a n |
Bước 6 – Học
tiếng mẫu [loan]
Phần vần có đủ
âm đệm, âm chính và âm cuối
Bước này thực
chất vẫn là áp dụng và mở rộng nội dung đã học ở mẫu [ba], [loa] và [lan].
Mở rộng sau khi
học mẫu tiếng [loan] Học sinh sẽ tự ghi được tất cả các tiếng như sau
boan choan doan
đoan goan hoan khoan loan moan noan ngoan … voan
Luật chính tả
dùng chữ q cũng được mở rộng sang phần này: quan, quăn, quân, quang, quăng,
quâng …
Bước 7 – Học
nguyên âm đôi [ia] [ua] [ưa]
Thực ra, sau
khi học xong bước 6, học xong phần vần có đủ âm đệm, âm chính và âm cuối,
coilaf đã mô tả đầy đủ ngữ âm tiếng của tiếng Việt.
Học sang phần
nguyên âm đôi thực chất là học luật chính tả ghi nguyên âm đôi khi ở một tiếng
không có âm cuối (sẽ ghi bằng ia, ua, ưa), và khi nằm trong một tiếng có âm cuối
(sẽ ghi bằng iê, uô, ươ). Như mô hình dưới đây:
|
b
ia |
|
b
ươ n |
|
b
ua |
|
b
uô n |
|
b
iê n |
|
b
ưa |
Với các nguyên
âm đôi, xưa nay do quen đánh vần bằng con chữ như người Tây, nên nhiều người
không chịu chấp nhận ngữ âm tự nhiên của tiếng Việt:
[ia] [n] [iên]
theo luật chính tả đứng trước âm cuối em ghi bằng iê.
[ua] [n] [uôn]
theo luật chính tả đứng trước âm cuối em ghi bằng uô
[ưa] [n] [ươn]
theo luật chính tả đứng trước âm cuối em ghi bằng ươ.
Vài lời kết
luận
Việc tổ chức
cho học sinh học tiếng Việt lớp 1 rất khó khăn và cực kỳ quan trọng.
Có cách dạy (dù
vẫn có kết quả) chẳng đem lại lợi ích gì về tư duy cho người học. Cách đánh vần
theo lối Tây, en-dê-hát thay cho âm ngh, tạo ra thói quen lười biếng cho cả xã
hội.
Và cũng mất cả
bản sắc dân tộc gửi trong ngữ âm của tiếng nước nhà.
Nhà giáo Phạm
Toàn (2018)
Bài 2. Bản chất của việc học – Cơ sở lý
luận của Bộ Sách Cánh Buồm

Xưa nay, các
nhà giáo dục thường coi trưởng thành là nhờ hưởng thụ nền giáo dục “toàn diện”
gồm các mặt Trí (dục), Đức, Thể, Mỹ. Về sau, còn thêm Lao (tức là lao động).
Nhóm Cánh Buồm
không ghé thêm yếu tố nào nữa cho “toàn diện” hơn. Nhóm Cánh Buồm chỉ thay đổi
khái niệm, coi Tư duy là giá trị cốt lõi của một con người trưởng thành.
Tư duy người
chi phối sự trưởng thành cả về Trí, Đức, Thể, Mỹ, và Lao nữa. Và trưởng thành
là cả quá trình nên người và quá trình đó diễn ra dưới dạng Tự học – Tự giáo dục.
Lô gich của những
bài đã đăng dẫn tới bài này, bàn về bản chất việc HỌC của con người, và bản chất
đó là TỰ HỌC.
Hành trình
tìm cơ sở lý luận đổi mới giáo dục
Khi mới thành lập
nhóm Cánh Buồm, các thành viên đã phải tranh cãi sôi sùng sục về việc định
nghĩa Học là gì?
Đó là vì, tiếp
liền theo việc định nghĩa lại khái niệm Giáo dục, với hàm nghĩa tổ chức sự trưởng
thành của thanh thiếu niên, định nghĩa đó chuyển hoạt động nhà trường từ việc dạy
học sang tổ chức việc học.
Nhà giáo Phạm Toàn, ảnh do tác giả cung cấp.
Đó là điều lâu nay vẫn quen gọi bằng khẩu hiệu “lấy học sinh làm trung tâm”.
Vậy, học là gì?
Học là làm những công việc gì? Thế nào là học đúng và thế nào là học chưa đúng,
thậm chí không đúng?
Đồng thời, ngay
lập tức, có những phần tử “tham lam” đáng yêu trong nhóm còn nêu thêm câu hỏi:
không chỉ tổ chức việc học, liệu có thể tổ chức cả việc tự học của trẻ em
không?
Cuối cùng, sự
“tham lam đáng yêu” đã thành xu thế chính trong việc nhóm Cánh Buồm cùng nhau
đi tìm lời giải đáp.
Trong công việc
tìm tòi này, ngoài tinh thần thực sự cầu thị, nhóm Cánh Buồm cũng có những thuận
lợi riêng như sau.
Trước hết,
trong nhóm có “bạn” U80 đã từng được đào tạo bài bản về Tâm lý học giáo dục.
(Xin mở ngoặc:
bạn già về hưu này hiện là giám đốc một Viện nghiên cứu cai nghiệm ma túy, dùng
Tâm lý học để cứu vớt những kẻ nghiện ngập đáng thương mà không cần đến biện
pháp tập trung, cưỡng bức).
Nhóm lại có nhiều
bạn đã trải nhiều năm làm công việc dịch thuật tư liệu cho các Viện nghiên cứu,
các trường Đại học lớn.
Để dịch đúng,
những người này phải cùng nhau tự học và dần dần họ làm chủ được nhiều chân lý
khoa học chính mình hào hứng tìm ra trong khi làm thuê và được tiền thuê dịch.
Và điều thuận lợi
thứ ba, đó là cú hích từ Giáo sư Hồ Ngọc Đại. Trong nửa cuối những năm 1970 trở
đi, vị giáo sư hơn ba chục tuổi đời đang còn năng nổ này đã tạo ra cơn lốc Tâm
lý học.
Ông đã buộc các
nhà sư phạm phải cố gắng thoát ra khỏi sự lỗ mỗ Tâm lý học giáo dục.
Dĩ nhiên, nhóm
Cánh Buồm có được hưởng lợi từ những vụ “gây bất hòa” tích cực thời đó.
Tủ sách Tâm
lý học giáo dục Cánh Buồm
Nhóm Cánh Buồm
ra mắt bằng cuộc hội thảo mang tên Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em. Đó là cuối năm
2009.
Khi đó, nhóm vẫn phải dùng mấy chữ dạy trẻ em. Ngay khi đó mà nhẹ dạ dùng cách
nói như về sau này – tổ chức việc học – thì e rằng hơi sớm.
Dẫu sao, cái
tinh thần “hiểu trẻ em” đã là một mệnh lệnh khoa học đối với các thành viên già
và trẻ trong nhóm. Điều đó dẫn đến những cuộc hội thảo các năm sau, mỗi ngày một
nâng dần tính chất tự lập, tự học, tự giáo dục.
Trong kế hoạch
bước đầu của nhóm Cánh Buồm, chúng tôi tập trung vào việc học hỏi từ Jean
Piaget (Thụy Sĩ), Howard Gardner (Mỹ), và Lev Vygotsky (Nga).
Tại sao lại là
ba lựa chọn đó?
Trước hết, nói
về Piaget.
Nhà tâm lý học
này có gốc gác khoa học là khoa sinh vật học. Ông từng “làm thuê” cho trường
phái tâm lý học trắc nghiệm. Ông đã từng ngồi với từng em bé, trước mặt hai người
là tờ giấy trắng và cây bút chì.
Ông thực hiện
việc hỏi em nhỏ và ghi những câu trả lời để nộp cho chủ đề tài.
Piaget có đặc
điểm này khi làm công việc đo nghiệm tâm lý học. Ông thích thú và quan tâm đến
những câu trả lời sai của trẻ em được ông đo nghiệm. Nhà tâm lý học giáo dục Mỹ
Howard Gardner giới thiệu về Jean Piaget như sau:
“Chính là từ một
người được đào tạo theo truyền thống IQ mà chúng ta có được một cách nhìn vào
trí tuệ thay thế được trào lưu test đo nghiệm trí khôn trên nhiều phương diện.
Nhà tâm lý học
Thụy Sĩ Jean Piaget bắt đầu sự nghiệp khoảng năm 1920 với tư cách người làm việc
trong phòng thí nghiệm của Simon và ông chỉ quan tâm đến những sai lầm trẻ em
thường mắc phải khi xử lý các thực nghiệm đo nghiệm trí khôn.
Piaget đã đi đến
chỗ tin tưởng rằng điều quan trọng không phải là câu trả lời đúng của trẻ em,
mà là những cách suy luận các em đưa ra, những cái đó có thể thấy rõ nhất khi tập
trung vào những khẳng định và những lập luận làm đẻ ra các kết luận sai lầm”.
Ông mường tượng
thấy trong những câu trả lời sai có chứa đựng một tiềm năng mà ông cần nghiên cứu
(và lập nghiệp) thành công trong khoa Tâm lý học nhận thức và Tâm lý học phát
triển.
Piaget tiến
hành những nghiên cứu trên trẻ nhỏ từ khi mới lọt lòng, bắt
đầu từ chính các con của ông và về sau là các trẻ em khác tại Viện
Jean-Jacques Rousseau ở Genève .
Những công việc
này đã giúp ông sớm xác định được bản chất của việc học của trẻ em (từ độ tuổi
rất sớm, từ phút đầu tiên lúc mới lọt lòng).
Có thể nêu ví dụ
từ vô vàn ví dụ trong cuốn “Sự ra đời trí khôn của trẻ em”. [1]
Quan sát 1:…“Bé
Lucienne sau 15 phút và bé Laurent sau nửa giờ sinh ra đã mút bàn tay. (…) Ở
Lucienne, vì bàn tay được giữ yên trong tư thế của nó, việc mút ngón tay kéo
dài hơn 10 phút”…(tr.42).
Một buổi hội thảo của nhóm Cánh Buồm, ảnh do nhà giáo Phạm Toàn cung cấp.
Sau khi sinh vài giờ trẻ mút vú mẹ lần đầu tiên, và quan sát cho thấy mỗi bé bú
mẹ với những phản ứng rất khác nhau… Từ đó bằng việc quan sát liên tục, hàng
trăm lần mỗi lần bé thèm bú, cử động tìm vú và đến 29 ngày bé thích nghi với việc
bú ra sao…
Theo cách nói
dân dã, ta sẽ tạm kết luận như sau: chẳng ai dạy đứa trẻ cách bú để thỏa mãn
cơn đói và cơn khát cả – các bé đã tự học đấy!
Nói theo cách
nói khoa học của Piaget, ta sẽ bảo:
Lý thuyết về
thích nghi (học lấy cái mới trong môi trường sống) và điều tiết (cái mới đã
thích nghi với cái mới hơn) và tổ chức cả một hệ thống các phản xạ thuần túy có
thể tạo thành thái độ tâm lý, và sẽ có được sự hệ thống hóa sự vận hành của các
phản xạ đó.
Quá trình đó trải
qua 6 giai đoạn hình thành, phát triển (trong vòng 1 năm 6 tháng) cái cấu trúc
cảm giác vận động sơ khai được áp dụng vào các tình huống mới;
Nó được liên kết
giữa các vận động cầm nắm, nghe, nhìn, phát âm… trở thành những cái “sơ đồ tạm”
hoặc “cấu trúc sơ khai”, (Piaget đặt một cái tên không có trong ngôn ngữ thường
dùng: schème) ngày càng được đồng hóa, phổ cập hóa phong phú và có khả năng điều
tiết linh hoạt ứng với các tình huống khác nhau.
Chẳng hạn như,
khi một đồ chơi vốn có trong tầm của trẻ “bỗng” vắng mặt, thì trẻ ngơ ngác, bập
bẹ gọi tên đồ vật và đi tìm kiếm nó (quan sát 181 của Piaget).
Như vậy là biểu
trưng về đồ vật vắng mặt (cái sơ đồ biểu trưng trong não) đã điều khiển hành vi
tìm kiếm của đứa trẻ. Một nấc thang phát triển có chất lượng mới về trí khôn được
ra đời ở đứa trẻ (tr.415).
Trong cuốn “Sự
hình thành biểu trưng ở trẻ em” [2], Piaget lại trả lời tiếp câu hỏi: Biểu tượng
từ đâu mà có? Đó là từ sự bắt chước và từ trò chơi.
Piaget quan sát
trẻ sơ sinh từ đầu và thử nghiệm phát lại những âm đứa trẻ 2 tháng 11 ngày, trẻ
tỏ ra “chú ý” nghe; rồi khi nó 2 tháng 17 ngày, khi ông phát âm lại những âm
quen thuộc (ví dụ arr…), bé đã bắt chước ngay và arr… theo…
Rồi lúc bé được
1 tháng 26 ngày, ông làm động tác quay đầu sang bên phải, bên trái, bé nhìn và
cũng bắt chước quay đầu theo… Ông gọi đó là giai đoạn bắt chước lẻ tẻ.
Giai đoạn tiếp
theo là “Bắt chước có hệ thống những âm thanh trẻ đã phát âm và những động tác
trẻ đã thực hiện trước đó và được trẻ nhìn thấy”, (như bắt chước những âm
thanh, những cử động tay, chân… ở trẻ 7 – 9 – 10 tháng).
Giai đoạn 4 và
5: “Bắt chước những vận động không nhìn thấy trên cơ thể và những hình mẫu”
(như bắt chước chớp mắt; bắt chước lấy mùi soa phủ lên đồ vật – 11 tháng 28
ngày).
Vào lúc 1 năm 3 tháng 15 ngày trẻ biết chủ động bắt chước những âm thanh có
nghĩa, như mama, papa,… Như vậy những cấu trúc sơ khai ngày càng được đồng hóa
và điều tiết cao hơn để đáp ứng những hành vi ngày một phức tạp hơn.
Giai đoạn 6: Bắt
đầu sự bắt chước có tính biểu trưng và sự tiến hóa của bắt chước.
Từ bắt chước tức
thời đến bắt chước trì hoãn (sau mới lặp lại), rồi bắt chước có tính biểu trưng
ở trẻ vào lúc 2 tuổi, là một trong những cơ sở hình thành biểu tượng ở trẻ.
Cùng với bắt
chước là trò chơi, có ý nghĩa quyết định tới hình thành biểu tượng. “Sự sinh ra
trò chơi” ở trẻ cũng bắt đầu từ cảm giác vận động khi trẻ ném quả bóng cho nảy
lên, kéo cái xe bằng sợi giây…
Đó là bắt đầu
những trò chơi thực hành đơn giản (lúc hơn 2 tuổi); tiếp đó là trò chơi tượng
trưng (chăm sóc búp bê, nấu ăn…); rồi trò chơi có quy tắc…
Cùng với phát
triển ngôn ngữ, trò chơi phát triển với nhiều kiểu dạng phong phú, cho đến trẻ
7 – 8 tuổi vẫn phát triển các trò tượng trưng, trò chơi có quy tắc… với biểu tượng
ngày càng phong phú, đa dạng và có tính khái quát cao hơn.
Quá trình bắt
chước và trò chơi là cơ sở hình thành nên thế giới biểu tượng ở trẻ. Các biểu
tượng tạo nên các liên tưởng, là cơ sở cho phát triển trí tưởng tượng, tư duy
hình tượng ở trẻ.
Cùng với sự
phát triển ngôn ngữ, các biểu tượng là tiền đề phát triển tư duy, từ giai đoạn
“tiền thao tác” (2 đến 6 tuổi); giai đoạn “thao tác cụ thể” (7 đến 11 tuổi);
giai đoạn “thao tác hình thức” (trên 12 tuổi); vân vân…
Trên đây, đã
nói hơi kỹ về Piaget. Dùng chữ “hơi kỹ” là để nói về “thị phần” Piaget trong một
bài báo không thể viết dài.
Tủ sách Tâm lý
học Giáo dục Cánh Buồm sẽ sớm bổ sung công trình thứ ba, tạo thành một bộ ba đầu
tiên bằng cuốn:
Sự hình thành
cái thực ở trẻ (nhà xuất bản Tri thức sẽ cho ra mắt vào tháng 3 năm nay) và bổ
sung bằng cuốn Tư duy và ngôn ngữ của Lev Vygotsky (nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi
của nhóm Cánh Buồm đang hoàn thành).
Tủ sách Tâm lý học này cũng đã công bố công trình Cơ cấu trí khôn [4] của nhà
tâm lý học Mỹ Howard Gardner nói về lý thuyết trí khôn nhiều thành phần của
ông.
Một số công
trình quan trọng khác của Howard Gardner [5] cũng đang được hoàn thành.
Tác giả Mỹ
Howard Gardner đang còn sống, là người đương thời với chúng ta. Những tìm tòi của
ông bổ sung cho Piaget về tinh thần “đại chúng”.
Trí khôn của
con người không chỉ xoay quanh một yếu tố cốt lõi – thường là trí khôn Toán học.
Nói cho dễ hiểu,
nó giống như thói quen ở nước ta coi chỉ có người giỏi Toán mới là người thông
minh.
Nhưng chẳng nhẽ
một thanh niên ít học nhưng điều khiển con thuyền giữa cả vạn hòn đảo mà không
lạc, hoặc người chơi đàn thuộc lòng cả chục cả trăm bản nhạc… lại không có trí
khôn?
Kết luận
Nhóm Cánh Buồm
chỉ có thể chọn lọc giới thiệu công trình của một số nhà tâm lý học để chúng ta
cùng thấy cái lý lẽ cốt lõi của việc quả quyết rằng, bản chất của việc học của
con người từ tấm bé, thậm chí từ khi lọt lòng, là công việc tự học.
Học là tự học.
Cái cơ chế tự học đã được các nhà tâm lý học tìm thấy từ lâu.
Chỉ lo “cải
cách giáo dục” mà không lo cái lý lẽ cốt lõi của sự học, không thấy bản chất của
việc học là tự học, không quan tâm nghiên cứu con đường tự học, thì không thể
thành công!
Những thay đổi
bề ngoài của lớp học (thí dụ “học nhóm”) mà không dựa trên cách tổ chức việc tự
học, thì chỉ có ý nghĩa là sự chạy theo những sắc áo lòe loẹt và coi đó là sự sống
thực của nhà trường!
Jean Piaget
nói: “Chỉ có giáo dục mới có khả năng cứu những xã hội của chúng ta khỏi khả
năng sụp đổ, cho dù đó là sự sụp đổ do bạo lực hay sự sụp đổ dần dần”. [6]
Vấn đề cần suy
nghĩ là xây dựng một nền giáo dục như thế nào. Một nền giáo dục kiểu Khổng Nho
“hãy nghe lời ta”, “hãy tả cây bàng sân trường theo bài mẫu của ta” – hay đó là
nền giáo dục của Tự do và Trách nhiệm ở đó sự Học có bản chất là sự Tự học.
Tài liệu tham
khảo:
[1] Piaget
Jean. Sự hình thành trí khôn ở trẻ nhỏ, Hoàng Hưng dịch, NXB Tri Thức, 2015 (Tủ
sách Tâm lý học giáo dục Cánh Buồm.
[2] Piaget
Jean. Sự hình thành biểu trưng ở trẻ nhỏ. Nguyễn Xuân Khánh và Hoàng Hưng dịch,
NXB Tri Thức, 2016 (Tủ sách Tâm lý học giáo dục Cánh Buồm).
[3] Wallon
Henri, Từ hành động đến Tư duy, tr.157 (dẫn theo Piaget).
[4] Gardner
Howard, Có cấu trí khôn, Phạm Toàn dịch, NXB Tri Thức, 2016 (Tủ sách Tâm lý học
giáo dục Cánh Buồm).
[5] Gardner
Howard, Trí khôn phi học đường,Phạm Anh Tuấn dịch và Trí khôn sáng tạo,Hoàng
Hưng dịch (Tủ sách Tâm lý học giáo dục Cánh Buồm.
[6] https://vi.wikipedia.org/wiki/Jean_Piaget
Nhà giáo Phạm
Toàn (2017)
